Số 20 (2025)
TẠP CHÍ NÔNG NGHIỆP & MÔI TRƯỜNG
Số 515 năm 2025
Xuất bản 1 tháng 2 kỳ
Các bài báo
-
ĐÁNH GIÁ ĐỘC TÍNH CỦA CÁC QUẦN THỂ RẦY NÂU VÙNG SINH THÁI ĐẤT PHÙ SA TẠI ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
Nghiên cứu được tiến hành năm 2024, trong điều kiện nhà lưới tại Viện Lúa đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) trên 11 giống lúa mang gen kháng khác nhau và 1 giống lúa chuẩn nhiễm với 8 quần thể rầy nâu. Kết quả cho thấy, 8 quần thể rầy nâu vùng sinh thái đất phù sa thu thập tại các tỉnh, thành phố: An Giang, Kiên Giang, Hậu Giang, Cần Thơ, Đồng Tháp, Sóc Trăng, Tiền Giang và Long An không có sự khác biệt về mức độ gây hại trên các giống mang gen chuẩn kháng. Trong số 8 quần thể rầy nâu vùng sinh thái đất phù sa vùng ĐBSCL, quần thể rầy nâu tại tỉnh Đồng Tháp có mức độ gây hại/độc tính mạnh nhất. Ngoài ra, trong tổng số 11 giống lúa mang các gen kháng rầy nâu chỉ có giống Ptb33 (bph2, Bph3, Bph32) có phản ứng kháng vừa với 8/8 quần thể rầy nâu. Trong khi đó, giống Rathu heenati (Bph3, Bph17) có phản ứng kháng vừa với 3/8 quần thể rầy nâu (tỉnh Sóc Trăng, Tiền Giang, Long An), giống Swanalata (Bph6) có phản ứng kháng vừa với 3/8 quần thể rầy nâu (tỉnh An Giang, Tiền Giang, Long An) và giống IR54742 (Bph10) có phản ứng kháng vừa với 1/8 quần thể rầy nâu (tỉnh Kiên Giang). Kết quả nghiên cứu có thể hỗ trợ cho các chương trình chọn tạo giống lúa và phục vụ cho việc phát triển các giống lúa mới có khả năng chống chịu tốt đối với các quần thể rầy nâu khác nhau ở vùng ĐBSCL.
-
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA PHÂN BÓN LÁ HỮU CƠ NANO PAN ĐẾN SINH TRƯỞNG, SÂU, BỆNH, NĂNG SUẤT LÚA VÀ HIỆU QUẢ KINH TẾ
Nghiên cứu được tiến hành từ vụ mùa 2021 đến vụ xuân 2024 nhằm đánh giá ảnh hưởng của phân bón lá hữu cơ nano PAN đến sinh trưởng, khả năng chống chịu sâu, bệnh, các yếu tố cấu thành năng suất, năng suất thực thu và hiệu quả kinh tế của một số giống lúa tại các tỉnh phía Bắc (Ninh Bình, Nghệ An, Hà Tĩnh). Thí nghiệm bố trí 2 công thức: (1) bón phân gốc theo tập quán địa phương kết hợp phun phân bón lá hữu cơ nano PAN (1 L/ha pha 1.000 L nước, phun 4 lần ở các giai đoạn đẻ nhánh, làm đòng, trỗ 5% và nuôi hạt), và (2) đối chứng chỉ bón phân gốc. Kết quả tổng hợp 8 vụ cho thấy, việc bổ sung phân bón lá hữu cơ nano PAN giúp cải thiện chiều cao cây, kéo dài độ xanh lá, tăng số hạt chắc/bông, giảm tỷ lệ hạt lép và mức độ nhiễm sâu, bệnh chính. Năng suất thực thu tăng từ 600 - 3.250 kg/ha lợi nhuận tăng thêm 5,6 - 29,6 triệu đồng/ha so với đối chứng. Ngoài ra, mô hình sử dụng PAN góp phần giảm lượng phân hóa học, hạ chi phí sản xuất và hạn chế tác động môi trường. Kết quả khẳng định hiệu quả và tiềm năng nhân rộng phân bón lá hữu cơ nano PAN trong sản xuất lúa ở các vùng sinh thái khác nhau.
-
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CÁC LIỀU LƯỢNG PHÂN ĐẠMĐẾN THỜI GIAN SINH TRƯỞNG, NĂNG SUẤT VÀYẾU TỐ CẤU THÀNH NĂNG SUẤT CỦA NGÔ SINH KHỐI LÀM THỨC ĂN CHĂN NUÔI GIA SÚC TẠI CÁC TỈNH PHÍA BẮC
Trồng ngô sinh khối là một trong những giải pháp khả thi để giải quyết vấn đề thiếu hụt thức ăn xanh cho gia súc. Thí nghiệm nghiên cứu liều lượng phân đạm phù hợp cho sản xuất ngô sinh khối phục vụ chăn nuôi đại gia súc được tiến hành trên giống ngô NK7328, trong vụ thu đông năm 2024 (tại tỉnh Sơn La và Cao Bằng) và vụ đông năm 2024 (tại tỉnh Vĩnh Phúc và Nghệ An). Kết quả cho thấy, giống ngô NK7328 cho năng suất sinh khối cao nhất quan sát được là 57,06 tấn/ha tại mức 170 N. Tuy nhiên, mô hình hồi quy bậc hai dự đoán rằng năng suất cực đại đạt được ở khoảng 180 N. Điều này gợi ý rằng, mức đạm tối ưu thực tế có thể nằm trong khoảng 170 - 180 N. Kết quả phân tích cho thấy, ở cả 4 tỉnh, hàm lượng nitrat trung bình có trong thân cây ngô NK7328 ở các công thức phân bón tăng dần khi mức đạm bón tăng dần từ mức 140 kg N (404,93 mg/kg) đến mức 180 kg N (453,88 mg/kg). Qua so sánh với những nghiên cứu trước đó thì tất cả các mức đạm bón đều vẫn ở mức an toàn khi dùng làm thức ăn thô xanh cho gia súc, ngay cả khi được sử dụng làm thức ăn duy nhất.
-
NGHIÊN CỨU LIỀU LƯỢNG ĐẠM VÀ PHÂN HỮU CƠ THÍCH HỢP CHO TRỒNG CỎ VOI XANHTRÊN ĐẤT BẠC MÀU TẠI XÃ NAM CAM RANH, TỈNH KHÁNH HOÀ
Nghiên cứu được thực hiện trên vùng đất bạc màu tại xã Cam Thịnh Tây, thành phố Cam Ranh (nay là xã Nam Cam Ranh), tỉnh Khánh Hoà nhằm đánh giá ảnh hưởng của liều lượng đạm và phân hữu cơ đến khả năng sinh trưởng và năng suất của cỏ voi xanh trồng trên đất bạc màu. Thí nghiệm được bố trí khối hoàn toàn ngẫu nhiên gồm 6 công thức (CT), 3 lần lặp lại. Kết quả nghiên cứu cho thấy, mức bón đạm và phân hữu cơ thích hợp nhất trong điều kiện đất bạc màu tại xã Cam Thịnh Tây, thành phố Cam Ranh (nay là xã Nam Cam Ranh), tỉnh Khánh Hoà là bón nền (60 kg P2O5 + 180 kg K2O/ha) + 300 kg N + 25 tấn phân chuồng/ha. Với mức bón này năng suất chất xanh đạt 278,1 tấn/ha/năm, lợi nhuận đạt 33.050.000 đồng/ha/năm và tỷ suất chi phí lợi nhuận cận biên đạt cao, so với đối chứng 1 là 2,6 và đối chứng 2 là 3,4.
-
KHẢO SÁT HÀM LƯỢNG VITAMIN C, POLYPHENOL, HOẠT TÍNH CHỐNG OXY HÓA CỦA CHIẾT XUẤTTỪ PHẦN THỊT QUẢ NA TRỒNG Ở TỈNH THÁI NGUYÊN VÀ VÙNG LÂN CẬN
Gần đây, quả na đã thu hút sự chú ý của những người quan tâm đến thực phẩm tăng cường sức khỏe bởi hàm lượng cao và đa dạng thành phần hóa thực vật. Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá hàm lượng vitamin C, polyphenol và hoạt tính chống oxy hóa của thịt quả na dai trồng ở tỉnh Thái Nguyên và vùng lân cận. Hàm lượng vitamin C và phenolic toàn phần được phân tích dựa trên đường chuẩn axit ascorbic và gallic. Thử nghiệm khả năng bắt gốc tự do DPPH và tổng năng lực khử được thực hiện để đánh giá hoạt tính chống oxy hóa. Mẫu na dai Đài Loan (NDĐL) đạt hàm lượng vitamin C cao nhất, tiếp theo là mẫu na dai Đồng Bành (NDĐB) và thấp nhất là mẫu na dai La Hiên (NDLH) với giá trị dao động từ 2,56 - 3,17 mg/g chất khô. Ba mẫu na có hàm lượng polyphenol tương đồng và cũng thể hiện khả năng bắt gốc tự do DPPH tương đương nhau. Mẫu NDĐL thể hiện tổng năng lực khử mạnh nhất và thấp nhất là mẫu NDĐB với giá trị EC50 (nồng độ đạt hiệu quả trung bình) lần lượt là 126,79 và 149,28 µg/mL. Kết quả nghiên cứu cho thấy, chiết xuất từ các mẫu na này có tiềm năng ứng dụng trong sản xuất chế phẩm hương liệu hoặc thực phẩm chức năng.
-
NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG KHẢ NĂNG ỨC CHẾ CỦA CAO DỊCH CHIẾT CỦ GỪNG (Zingiber officinale L.) ĐẾN NẤM MỐC Aspergillus sp. PHÂN LẬP TỪ BÁNH MOCHI KHOAI LANG TÍM
Mochi khoai lang tím là sản phẩm kết hợp giữa bánh gạo nếp và khoai lang tím có giá trị dinh dưỡng và hàm lượng ẩm cao. Tuy nhiên, đặc điểm của sản phẩm là có hàm lượng ẩm lớn và cấu trúc mềm dẻo, đây chính là điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của các vi sinh vật gây hư hỏng, đặc biệt là nấm mốc. Do đó, việc tìm kiếm các giải pháp bảo quản an toàn và hiệu quả từ nguồn gốc tự nhiên đang là hướng đi được quan tâm. Nghiên cứu này nhằm bước đầu thử nghiệm khả năng ức chế của cao chiết gừng đối với nấm mốc phân lập từ bánh mochi khoai lang tím. Kết quả, đã phân lập và giải trình tự cho thấy, dòng nấm mốc gây hư hỏng cho sản phẩm ở điều kiện nhiệt độ môi trường tương đồng 97,26% với loài Aspergillus niger chủng WM 10.75 (OR195800.1) trên ngân hàng gen. Sau 168 giờ nuôi cấy, hoạt tính ức chế sợi nấm của cao chiết củ gừng đối với chủng nấm trong nghiên cứu là 1.000 mg/mL. Đồng thời, sau 48 giờ nuôi cấy, hoạt tính ức chế bào tử được xác định là 4 mg/mL. Kết quả nghiên cứu cho thấy, cao chiết củ gừng có tiềm năng ứng dụng cao trong việc ức chế sự phát triển của nấm mốc A. niger trong điều kiện in vitro.
-
ẢNH HƯỞNG CỦA VIỆC THAY THẾ MỘT PHẦN NaCl BẰNG CaCl2/KCl ĐẾN TÍNH CHẤT CẤU TRÚC VÀ CẢM QUAN CỦA XÚC XÍCH THANH TRÙNG
Việc tiêu thụ thực phẩm nhiều muối ăn (NaCl) làm tăng nồng độ ion Na+ trong cơ thể, từ đó làm gia tăng nguy cơ mắc các bệnh lý như: Tim mạch, tăng huyết áp, suy thận, ung thư đại tràng và đột quỵ. Nhiều nghiên cứu đã cho thấy lợi ích sức khỏe của việc giảm Na+ bằng cách thay thế một phần NaCl bằng các muối clorua khác, tuy nhiên ảnh hưởng của việc thay thế này đến chất lượng sản phẩm chưa được quan tâm và phân tích đầy đủ. Do đó, nghiên cứu này khảo sát tính chất cấu trúc và cảm quan của các mẫu xúc xích thanh trùng đã thay thế một phần NaCl bằng CaCl2 hoặc KCl có bổ sung 2% dịch chiết nấm men. Tính chất cấu trúc được phân tích theo phương pháp phân tích cấu trúc (Texture Profile Analysis); tính chất cảm quan được đánh giá thông qua phương pháp mô tả định lượng với hội đồng 10 chuyên gia. Kết quả cho thấy, CaCl2 gây ra một số hương vị không mong muốn như tanh, chua và đắng, đồng thời cũng ảnh hưởng tiêu cực đến tính chất cấu trúc. Ngược lại, KCl có khả năng giữ nước tốt, giúp duy trì cấu trúc của sản phẩm tốt hơn CaCl2. Nồng độ thay thế NaCl khuyến nghị cho sản phẩm xúc xích thanh trùng là 20% NaCl bằng CaCl2 hoặc 30% bằng hỗn hợp KCl bổ sung 2% chiết xuất nấm men. Nghiên cứu này đã cung cấp cơ sở công nghệ để giảm Na+ trong xúc xích thanh trùng, giúp cân bằng mục tiêu sức khỏe với chất lượng cấu trúc và cảm quan.
-
Đa dạng thành phần loài vi tảo trong ruộng lúa ở xã Long Kiến, tỉnh An Giang
Qua 3 vụ lúa khảo sát thành phần loài vi tảo phù du trong ruộng lúa cho thấy có sự hiện diện của 407 loài, thuộc 100 chi, 39 họ, 17 bộ và 4 ngành (tảo lục, tảo khuê, tảo mắt và vi khuẩn lam), trong đó tảo lục có cấu trúc thành phần loài đa dạng nhất. Số lượng loài tảo xuất hiện nhiều nhất vào vụ lúa hè thu năm 2017, đông xuân năm 2016 - 2017 và thu đông năm 2016, tương ứng với 276, 223, 88 loài. Chính sự khác biệt về điều kiện môi trường sống đã tạo nên tính đa dạng loài vi tảo trong ruộng lúa. Đặc biệt vào vụ hè thu năm 2017, đã phát hiện loài vi khuẩn lam Anabaena oscillarioides có dị bào có khả năng cố định đạm vào trong đất, xuất hiện nhiều ở đầu giai đoạn cây lúa đẻ nhánh.
-
CÔNG NGHỆ TÍNH TOÁN DỰ BÁO LŨ VÀ TRUYỀN TIN PHỤC VỤ XÂY HỆ THỐNG CẢNH BÁO SỚM LŨ VÀ NGẬP LỤT CHO TỈNH QUẢNG TRỊ VÀ VÙNG LÂN CẬN
Nghiên cứu xây dựng công nghệ dự báo, cảnh báo lũ và ngập lụt gồm hệ thống phần mềm hỗ trợ ra quyết định cảnh báo sớm lũ và ngập lụt cho tỉnh Quảng Trị và vùng lân cận, nhằm nâng cao năng lực ứng phó thiên tai. Công nghệ được xây dựng sử dụng các mô hình toán thủy văn - thủy lực (MIKE NAM, HEC-ResSim, MIKE11, MIKE Flood) đã mô phỏng 282 kịch bản lũ kết hợp từ các hình thế thời tiết và điều kiện vận hành hồ chứa, thông tin mực nước trên hệ thống sông, thủy triều vùng cửa sông. Phần mềm cảnh báo sử dụng thuật toán cây quyết định để nội suy các bản đồ ngập lụt từ dữ liệu dự báo mưa, mực nước trên hệ thống sông, các hồ chứa và thủy triều vùng cửa sông. Công nghệ này hỗ trợ đưa ra kết quả tính toán dự báo một cách nhanh chóng cho dự báo viên khắc phục hạn chế về thời gian tính toán của mô hình. Kết quả tính toán sẵn của các tổ hợp các kịch bản do đó khắc phục được hạn chế về năng lực tính toán mô hình toán của người tác nghiệp trong công tác phòng, chống thiên tai (PCTT). Ngoài ra, công nghệ truyền tin cảnh báo qua nền tảng WebGIS và ứng dụng di động, giúp người dân dễ dàng tiếp cận thông tin cảnh báo qua internet và điện thoại thông minh trong điều kiện lũ lụt khắc nghiệt, giúp ứng phó thiên tai hiệu quả hơn.
-
Nghiên cứu nhận thức của người dân vùng đệm về dịch vụ hệ sinh thái của vườn quốc gia u minh hạ
Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá nhận thức của cộng đồng về dịch vụ hệ sinh thái của Vườn Quốc gia U Minh Hạ (VQG). Nghiên cứu đã khảo sát 80 hộ dân ở hai xã vùng đệm là xã Khánh An, huyện U Minh và xã Trần Hợi, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau (nay là xã Khánh An, U Minh, Đá Bạc, tỉnh Cà Mau). Kiểm định chi bình phương được áp dụng để phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến nhận thức của người dân. Kết quả cho thấy, tỷ lệ người được khảo sát nhận thức các giá trị cung cấp của VQG ở mức cao và rất cao (17,5 - 23,8%), thấp hơn so với các dịch vụ điều tiết (55 - 70%), văn hóa - giáo dục (43,8 - 66,3%) và hỗ trợ (43,8 - 57,5%). Tỷ lệ người dân nhận thức tài nguyên và chất lượng môi trường của VQG suy giảm (47,5 - 51,3%). Hầu hết người dân (88,8 - 96,3%) đều biết về tác động của những hoạt động sản xuất nông nghiệp, chất thải sinh hoạt, khai thác tài nguyên và tình trạng thay đổi của khí hậu toàn cầu đến tài nguyên và môi trường của VQG. Bên cạnh đó, đa phần người dân (77,5 - 87,5%) có nhận thức tốt về những giải pháp bảo vệ tài nguyên, môi trường và dịch vụ hệ sinh thái của VQG. Nhận thức về dịch vụ hệ sinh thái tăng theo trình độ học vấn nên cũng chịu ảnh hưởng của yếu tố nghề nghiệp và những người ở độ tuổi trẻ thường có nhận thức tốt hơn. Kết quả nghiên cứu là cơ sở dữ liệu quan trọng cho công tác bảo vệ tài nguyên, môi trường, dịch vụ hệ sinh thái và thực hiện công tác chi trả dịch vụ hệ sinh thái của VQG U Minh Hạ.
