No. 19 (2025)
TẠP CHÍ NÔNG NGHIỆP & MÔI TRƯỜNG
Số 514 năm 2025
Xuất bản 1 tháng 2 kỳ
Các bài báo
-
KẾT QUẢ BẢO TỒN CHUYỂN CHỖ (EX-SITU) NGUỒN GEN THỰC VẬT NÔNG NGHIỆP GIAI ĐOẠN 2020 - 2024 TẠI NGÂN HÀNG GEN CÂY TRỒNG QUỐC GIA
Ngân hàng gen cây trồng Quốc gia giữ vai trò hạt nhân trong hệ thống bảo tồn tài nguyên di truyền thực vật (TNDTTV) tại Việt Nam, vừa là kho dự trữ chiến lược nhằm bảo vệ nguồn gen cây trồng khỏi rủi ro do thiên tai, biến đổi khí hậu, vừa là nền tảng cho nghiên cứu, chọn tạo giống, đảm bảo an ninh lương thực và phát triển nông nghiệp bền vững. Giai đoạn 2020 - 2024, Ngân hàng gen cây trồng Quốc gia đã bảo tồn 28.790 mẫu cây có hạt thuộc 125 loài của 4 nhóm cây trồng, bao gồm: Nhóm cây họ hòa thảo, nhóm cây ngũ cốc, nhóm cây đậu và nhóm cây rau, 3.041 nguồn gen của 18 tập đoàn cây sinh sản vô tính và 659 mẫu bảo tồn in vitro. Công tác nhân trẻ hóa đạt 10,9% (3.461 mẫu), đánh giá ban đầu và chi tiết đạt lần lượt 11,1 và 16,8% (5.354 mẫu). Dữ liệu được số hóa với hơn 89.000 trường mô tả và 29.000 trường đánh giá, cập nhật trên cơ sở dữ liệu quốc gia và trang web prc.org.vn. Bên cạnh đó, nhiều giống bản địa đã được phục tráng và đưa vào sản xuất, góp phần tăng thu nhập cho nông dân 10 - 15%. Kết quả cho thấy, Việt Nam đã mở rộng đáng kể quy mô bảo tồn, song tỷ lệ đánh giá chi tiết và ứng dụng công nghệ sinh học hiện đại còn hạn chế. Do vậy, cần ưu tiên đầu tư hạ tầng, tích hợp công nghệ phân tử và tăng cường hợp tác quốc tế nhằm nâng cao hiệu quả bảo tồn và sử dụng bền vững nguồn gen thực vật.
-
NGHIÊN CỨU NHÂN GIỐNG HOA LAY ƠN CF.21.09 TỪ CỦ IN VITRO TẠI TỈNH QUẢNG NINH
Giống lay ơn CF.21.09 là giống hoa mới triển vọng được Viện Nghiên cứu Rau quả tạo ra bằng phương pháp lai hữu tính. Giống lay ơn này đang được phát triển rộng rãi tại tỉnh Quảng Ninh sử dụng phương pháp nhân giống vô tính từ tách củ. Nhằm xác định được nguồn vật liệu thích hợp sử dụng để sản xuất giống lay ơn CF.21.09, đã tiến hành các thí nghiệm trên hai giai đoạn nhân giống tạo củ nhỡ và tạo củ thương phẩm. Kết quả cho thấy, sử dụng củ in vitro giống lay ơn CF.21.09 có kết quả nhân giống tốt nhất (củ giống tạo ra đồng đều, tỷ lệ củ giống thương phẩm đạt 81,8%; khả năng nhân giống cao với 47,3 củ bi/cây). Sử dụng củ nhỡ có chu vi 4 - 6 cm ở giai đoạn tạo củ thương phẩm giống lay ơn CF.21.09 thu được củ giống có chất lượng cao hơn so với giống đối chứng (đường kính củ 3,6 cm; tổng khối lượng củ thu được/360 m2 đạt 339,6 kg). Ngoài ra, sản phẩm trung gian là củ binhiều (31,7 củ/cây), tổng khối lượng củ bi cao 162,6 kg/360 m2.
-
PHÂN LẬP VÀ ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG ĐỐI KHÁNG CỦA MỘT SỐ DÒNG VI KHUẨN ĐƯỢC PHÂN LẬP TỪ ĐẤT VƯỜN BƯỞI NĂM ROI TẠI TỈNH VĨNH LONG VỚI NẤM Fusarium solani VÀ Sclerotium rolfsii TRONG ĐIỀU KIỆN in vitro
Nghiên cứu đã phân lập được 20 chủng vi khuẩn vùng rễ thuộc chi Bacillus từ 150 mẫu đất vườn bưởi Năm Roi tại phường Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long. Kết quả đánh giá khả năng đối kháng của 20 chủng vi khuẩn vùng rễ với nấm S. rolfsii gây bệnh thối gốc đã chọn được 6 chủng vi khuẩn vùng rễ có khả năng đối kháng trên 70% là VLND-0202, VLND-0802, VLND-0901, VLND-1202, VLND-1301, VLND-2002. Kết quả tiếp tục đánh giá khả năng đối kháng của 6 chủng vi khuẩn vùng rễ với nấm F. solani gây bệnh vàng lá thối rễ đã chọn được 3 chủng vi khuẩn vùng rễ có khả năng đối kháng tốt ở thời điểm 9 ngày sau bố trí là VLND-0802, VLND-1202 và VLND-1301 với hiệu suất đối kháng lần lượt là 58,50%; 60,50% và 66,50%. Bên cạnh đó, cả 3 chủng vi khuẩn vùng rễ VLND-0802, VLND-1202 và VLND-1301 đều có cơ chế phân giải lân ở thời điểm 7 ngày sau bố trí với đường kính vòng phân giải đồng nhất là 10 mm. Các chủng vi khuẩn hiệu quả sẽ được định danh và tiếp tục khảo sát hiệu quả phòng trừ sinh học trên cây trồng trong điều kiện nhà lưới.
-
ẢNH HƯỞNG CỦA MẬT ĐỘ TRỒNG VÀ LIỀU LƯỢNG PHÂN KALI ĐẾN SINH TRƯỞNG, NĂNG SUẤT CỦA GIỐNG TỎI TON8 (Allium sativum L.) TẠI VÙNG DUYÊN HẢI NAM TRUNG BỘ
Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ trồng và liều lượng phân kali nhằm xác định được yếu tố tối ưu cho sinh trưởng, năng suất và hiệu quả kinh tế cho giống tỏi TON8 tại vùng duyên hải Nam Trung bộ. Một nghiên cứu được thực hiện tại các tỉnh: Ninh Thuận, Khánh Hoà và Quảng Ngãi gồm 2 nhân tố được bố trí theo kiểu lô chính và lô phụ (split plot design) với 3 lần lặp lại, với yếu tố chính là 3 mức mật độ (1.111.000, 952.000, 833.000 cây/ha) và yếu tố phụ là 4 mức kali (90, 100, 110, 120 kg/ha). Kết quả cho thấy, mật độ trồng và liều lượng phân bón kali khác nhau ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng, phát triển, năng suất và khả năng chống chịu sâu bệnh của giống tỏi TON8. Chiều cao cây, đường kính củ, trọng lượng củ và năng suất đạt được cao nhất khi trồng với mật độ 1.111.000 cây/ha và bón phân kali với liều lượng 120 kg/ha. Trong các công thức thí nghiệm, công thức trồng với mật độ 833.000 cây/ha kết hợp bón 110 và 120 kg/ha kali cho khối lượng củ lớn nhất (trung bình 20,2 g). Trong khi đó, trồng với mật độ 1.111.000 cây/ha kết hợp bón 120 kg/ha kali cho năng suất cao nhất (trung bình 12,6 tấn/ha). Tuy nhiên, xét về tỷ suất lợi nhuận cho thấy khi trồng với mật độ 952.000 cây/ha kết hợp liều lượng phân kali 120 kg/ha cho tỷ suất lợi nhuận đạt cao nhất (1,07). Do đó, đối với giống tỏi TON8, để đạt hiệu quả kinh tế cao nhất, tiết kiệm chi phí mua giống khuyến cáo trồng mật độ 952.000 cây/ha kết hợp bón kali với liều lượng 120 kg/ha.
-
NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG QUY TRÌNH CHẾ BIẾN QUẢ HỒ TIÊU ĐỎ BẰNG PHƯƠNG PHÁP SẤY LẠNH KẾT HỢP VỚI BỨC XẠ HỒNG NGOẠI
Tỉnh Quảng Trị là địa phương có điều kiện tự nhiên thuận lợi để phát triển cây hồ tiêu. Hồ tiêu ở tỉnh Quảng Trị được thị trường trong và ngoài nước rất ưa chuộng, bởi hồ tiêu nhỏ, rắn, có hương thơm và vị cay đặc trưng. Các thành phần hóa học thường gặp trong hồ tiêu là tinh dầu và alcaloid... Tuy nhiên, tinh dầu, alcaloid, các hợp chất có hoạt tính sinh học và các sắc tố của quả hồ tiêu rất dễ bị biến đổi, hao hụt trong quá trình làm khô. Do đó, mục tiêu của nghiên cứu này là xây dựng thành công quy trình chế biến quả hồ tiêu đỏ bằng phương pháp sấy lạnh kết hợp với bức xạ hồng ngoại để hạn chế sự biến đổi đó. Thí nghiệm được thực hiện theo 5 công thức với các thông số kỹ thuật khác nhau. Phân tích đánh giá các chỉ tiêu dinh dưỡng, chỉ tiêu vi sinh và chỉ tiêu cảm quản của sản phẩm ở 5 công thức này, từ đó lựa chọn một công thức phù hợp để xây dựng quy trình chế biến. Quy trình chế biến được thực hiện với vận tốc gió là 1,5 m/s, nhiệt độ sấy là 35oC, độ dày thích hợp của lớp nguyên liệu trên khay sấy là 18,6 mm (3 lớp), khoảng cách bóng đèn phát tia hồng ngoại là 10 cm, thời gian sấy mỗi mẻ quả hồ tiêu đỏ là 39 giờ 15 phút, độ ẩm đạt 12 - 13%. Sản phẩm sau khi sấy có hàm lượng tinh dầu 2,56%, hàm lượng alcaloid 0,07%, không phát hiện sự có mặt của nấm mốc, sản phẩm có màu vàng phớt đỏ, mùi thơm đặc trưng, vị cay đặc trưng và vỏ ít nhăn.
-
ẢNH HƯỞNG CỦA MÀNG BAO SÁP ONG KẾT HỢP DỊCH CHIẾT LÔ HỘI ĐẾN SỰ THAY ĐỔICHẤT LƯỢNG CỦA QUẢ TÁO (Ziziphus mauritiana) SAU THU HOẠCH
Nghiên cứu đã đánh giá hiệu quả của màng bao sáp ong kết hợp dịch chiết lô hội đến chất lượng của quả táo trong 8 ngày tồn trữ. Thí nghiệm được thiết kế hoàn toàn ngẫu nhiên với bốn nghiệm thức bao gồm: (i) đối chứng (không bao màng), (ii) màng bao chứa 3% w/v sáp ong kết hợp 20% dịch chiết lô hội (AV-BW-3), (iii) màng bao chứa 6% w/v sáp ong kết hợp 20% dịch chiết lô hội (AV-BW-6) và (iv) màng bao chứa 9% w/v sáp ong kết hợp 20% dịch chiết lô hội (AV-BW-9). Kết quả cho thấy, tất cả các mẫu có bao màng đều hạn chế sự suy giảm chất lượng tốt hơn so với mẫu đối chứng. Trong đó, nghiệm thức AV-BW-9 đạt hiệu quả cao nhất đối với sự giảm hao hụt khối lượng (9,9%), duy trì hàm lượng TSS 8,0 - 8,3 độ Brix, độ cứng 2,35 - 2,32 N, hạn chế tổn thất hàm lượng vitamin C 89,58 - 69,52 mg/100 g và hàm lượng phenolic 113,34 - 78,16 mg GAE/100 g. Ngược lại, mẫu đối chứng ghi nhận sự suy giảm chất lượng đáng kể đối với sự hao hụt khối lượng lên đến 19,6%, hàm lượng TSS là 9,8 độ Brix, độ cứng giảm 2,06 N. Đáng chú ý, mẫu đối chứng có sự hao hụt đáng kể đối với hàm lượng vitamin C 30,63 mg/100 g và hàm lượng phenolic 20,66 mg GAE/100 g. Bên cạnh đó, vào cuối giai đoạn bảo quản (ngày 8), các mẫu có màng bao vẫn duy trì được màu sắc cho quả, góp phần tăng khả năng chấp nhận của người tiêu dùng. Kết quả cho thấy, việc sử dụng màng bao AV-BW duy trì chất lượng và kéo dài thời gian sử dụng của quả táo.
-
PHÂN TÍCH BIẾN ĐỘNG KHÔNG GIAN - THỜI GIAN VÀ CÁC NGUỒN Ô NHIỄM NƯỚC MẶT TẠI TỈNH AN GIANG BẰNG THỐNG KÊ ĐA BIẾN
Nghiên cứu này ứng dụng các phương pháp thống kê đa biến, bao gồm: Phân tích cụm (CA) và phân tích thành phần chính (PCA), nhằm đánh giá các quy luật biến động và xác định những nguồn gây ô nhiễm chính ảnh hưởng đến chất lượng nước mặt tại tỉnh An Giang. Phân tích được thực hiện trên bộ dữ liệu gồm 10 thông số chất lượng nước (nhiệt độ, pH, DO, COD, BOD5, TSS, N-NH4+, N-NO3-, P-PO43- và coliform), được thu thập tại 62 vị trí trong giai đoạn 2021 - 2023. Kết quả CA cho thấy, mạng lưới quan trắc có thể được tối ưu hóa hiệu quả bằng cách giảm số vị trí giám sát từ 62 xuống còn 46 vị trí và điều chỉnh tần suất lấy mẫu từ 6 đợt xuống 4 đợt mỗi năm, nhưng vẫn đảm bảo tính đại diện cho toàn khu vực. Trong khi đó, PCA đã xác định các yếu tố chi phối sự suy giảm chất lượng nước chủ yếu là nhóm ô nhiễm hữu cơ, dinh dưỡng và vi sinh vật. Sự biến động của các thông số này có nguồn gốc từ các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội như: Sinh hoạt đô thị, thâm canh nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản, bên cạnh các quá trình tự nhiên trong lưu vực. Những phát hiện của nghiên cứu cung cấp luận cứ khoa học quan trọng, hỗ trợ các nhà quản lý trong việc tái thiết kế mạng lưới quan trắc và ưu tiên các giải pháp kiểm soát ô nhiễm, góp phần quản lý bền vững tài nguyên nước.
-
CƠ SỞ KHOA HỌC ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH ĐIỀU TIẾT TRÊN DÒNG CHÍNH SÔNG MÃ
Vấn đề hạ thấp mực nước, xâm nhập mặn vùng hạ du sông Mã những năm gần đây đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến khai thác, sử dụng nước phục vụ phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh Thanh Hoá. Việc nghiên cứu đề xuất các giải pháp xây dựng công trình điều tiết nguồn nước trên dòng chính sông Mã đã được địa phương quan tâm và trở nên cấp bách. Bài báo này giới thiệu kết quả nghiên cứu và đề xuất giải pháp tổng thể về vùng tuyến nhằm xây dựng công trình điều tiết, khai thác đa mục tiêu góp phần đảm bảo an ninh nguồn nước, phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ môi trường cho vùng hạ du sông Mã.
-
ĐẶC ĐIỂM PHÂN BỐ VÀ LÂM HỌC LOÀI HOÀNG ĐÀN GIẢ (Dacrydium elatum (Roxb.) Wall) TẠI KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN KON CHƯ RĂNG, TỈNH GIA LAI
Hoàng đàn giả (Dacrydium elatum (Roxb.) Wall) thuộc họ Kim giao (Podocarpaceae), là loài cây gỗ quý hiếm, gỗ có tính chất tốt, mịn, thớ thẳng, đẹp, hơi cứng, nặng trung bình và thuộc nhóm II theo TCVN 12619-2:2019. Kết quả nghiên cứu tại Khu Bảo tồn thiên nhiên Kon Chư Răng tỉnh Gia Lai cho thấy, Hoàng đàn giả thường phân bố ở những nơi có độ cao từ 887 - 1.076 m so với mực nước biển, trong kiểu rừng tự nhiên hỗn giao lá kim và lá rộng. Trong các lâm phần có Hoàng đàn giả phân bố, mật độ tầng cây cao dao động từ 480 - 640 cây/ha, đường kính D1.3 trung bình từ 22,6 - 27,7 cm, chiều cao vút ngọn trung bình từ 19,3 - 21,1 m. Mật độ Hoàng đàn giả đạt từ 80 - 240 cây/ha và tham gia vào nhóm ưu thế trong tổ thành tầng cây cao của các lâm phần nghiên cứu. Mật độ cây tái sinh trong lâm phần có Hoàng đàn giả từ 3.840 - 7.040 cây/ha. Trong 03 OTC có 2 OTC có Hoàng đàn giả tái sinh với mật độ dao động từ 3.280 – 3.680 cây/ha, hầu hết đều tái sinh bằng hạt (82,9 - 95,7%), có phẩm chất tốt (72,3 - 82,6%). Tuy nhiên, cây Hoàng đàn giả tái sinh chủ yếu ở cấp chiều cao nhỏ hơn 20 cm, số lượng cây có triển vọng thấp, ảnh hưởng đến số lượng cây trưởng thành trong tương lai. Vì vậy, các nghiên cứu, các giải pháp bảo tồn và xúc tiến tái sinh cây Hoàng đàn giả là cần thiết để tạo lớp cây Hoàng đàn giả thay thế ở Khu Bảo tồn thiên nhiên Kon Chư Răng.
-
ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ THỰC HIỆN QUY HOẠCH, KẾ HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT HẰNG NĂM TẠI HUYỆN NGA SƠN, TỈNH THANH HÓA GIAI ĐOẠN 2021 - 2024
Nghiên cứu nhằm đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất (QHKHSDĐ) giai đoạn 2021 - 2024 huyện Nga Sơn (nay là các xã: Nga Sơn, Nga Thắng, Hồ Vương, Tân Tiến, Nga An, Ba Đình, tỉnh Thanh Hóa). Các phương pháp nghiên cứu sử dụng là: Điều tra thứ cấp, điều tra sơ cấp, đánh giá theo thang đo 5 cấp của Likert, đánh giá theo chỉ tiêu sử dụng đất (SDĐ) và kết quả thực hiện các công trình, dự án. Kết quả nghiên cứu cho thấy, QHKHSDĐ được duyệt rất chậm so với quy định; tên gọi các chỉ tiêu SDĐ giữa các thời kỳ có sự khác biệt rất nhiều. Có 74/96 chỉ tiêu SDĐ (chiếm 77,08%) đạt mức thực hiện rất tốt (28 chỉ tiêu đất nông nghiệp, 42 chỉ tiêu đất phi nông nghiệp, 4 chỉ tiêu đất chưa sử dụng). Có tới 15 chỉ tiêu SDĐ (chiếm 15,63%) thực hiện ở mức rất kém (100% là đất phi nông nghiệp). Kết quả điều tra 30 cán bộ cho thấy, 3/8 tiêu chí được đánh giá ở mức rất tốt; 5 tiêu chí ở mức tốt. Từ đó đề xuất giải pháp để nâng cao hiệu quả lập và thực hiện QHKHSDĐ.
